Đồng yên là đồng tiền chính có hiệu suất kém nhất trong hai năm qua, và xu hướng này dự kiến sẽ tiếp tục đến năm 2026. Tuần trước, đồng đô la đã tăng lên trên 159 yên, mức cao nhất kể từ tháng 7 năm 2024.
Bài viết bởi: Li Ruofan, Chiến lược gia thị trường toàn cầu, DBS Hồng Kông
Nguồn: Tạp chí Kinh tế Hồng Kông
Đồng yên Nhật là đồng tiền chính có hiệu suất kém nhất trong hai năm qua, và xu hướng này dự kiến sẽ tiếp tục đến năm 2026. Tuần trước, đồng đô la đã tăng lên trên 159 yên, mức cao nhất kể từ tháng 7 năm 2024.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đồng yên cũng đã trải qua lần đợt phục hồi trong hai năm qua. Đợt tăng giá đầu tiên của đồng yên so với đô la lên khoảng 140 diễn ra từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2024, chủ yếu do bán tháo hoảng loạn các giao dịch chênh lệch lãi suất dựa trên đồng yên. Đợt giảm giá thứ hai của đô la so với yên xuống khoảng 140 chủ yếu do nhu cầu trú ẩn an toàn tăng và việc bán tháo tài sản bằng đô la sau "Ngày Giải phóng".
Kể từ cuối năm 2024, vị thế giữ ròng phi thương mại đối với đồng yên Nhật do Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai Hoa Kỳ (CFTC) và sàn giao dịch Hàng hóa Chicago (CME) nắm giữ đã chuyển sang vị thế mua ròng, đạt mức cao lịch sử vào tháng 4 năm 2025. Vào thời điểm đó, tâm lý bi quan của nhà đầu tư đối với đồng yên đã giảm đáng kể, thậm chí chuyển bullish, chủ yếu dựa trên ba kỳ vọng:
1) Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ sẽ cắt giảm lãi suất đáng kể;
2) Ngân hàng Nhật Bản sẽ tiếp tục tăng lãi suất;
3) Nhật Bản có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối bất cứ lúc nào.
Tuy nhiên, kể từ nửa cuối năm 2025, tình hình đã thay đổi đáng kể.
Thứ nhất, lập trường ôn hòa của Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ) ít hơn so với dự đoán của thị trường. Nhìn lại tháng 9 năm 2024, thị trường dự đoán Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ sẽ cắt giảm lãi suất tổng cộng 2,5 điểm phần trăm vào cuối năm 2025. Tuy nhiên, do sự kiên cường của nền kinh tế Mỹ và lạm phát cao dai dẳng, Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ cuối cùng chỉ cắt giảm lãi suất 1,75 điểm phần trăm. Nhìn về phía trước, mặc dù người giao dịch kỳ vọng lần trong năm nay, biểu đồ dự báo lãi suất (dot plot) được công bố tại cuộc họp FOMC tháng 12 cho thấy các quan chức Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ chỉ kỳ vọng sẽ có thêm một lần cắt giảm lãi suất nữa trong năm nay. Tỷ lệ thất nghiệp, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu và dữ liệu lạm phát mới nhất cũng cho thấy Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ khó có khả năng đột ngột chuyển sang lập trường ôn hòa hơn. Một số quan chức Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ, bao gồm Raphael Bostic và Austan Goolsbee, đã nhắc lại mối lo ngại của họ về áp lực lạm phát cao dai dẳng, càng củng cố thêm đánh giá này.
Thứ hai, tốc độ tăng lãi suất của Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) chậm hơn đáng kể so với kỳ vọng của thị trường. Kể từ giữa năm 2024, BOJ chỉ tăng lãi suất ba lần, vào tháng 7 năm 2024, tháng 1 năm 2025 và tháng 12 năm 2025, nghĩa là lần thời gian giữa các lần tăng lãi suất khá dài. Các yếu tố chính trị cũng tạo ra những trở ngại lớn hơn cho việc BOJ tiếp tục tăng lãi suất. Tuần trước, Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi chính thức tuyên bố kế hoạch giải tán Hạ viện càng sớm càng tốt sau kỳ họp thường kỳ của Quốc hội vào ngày 23 tháng 1, trong khi thị trường dự đoán một cuộc bầu cử sớm có thể diễn ra vào ngày 8 tháng 2. Vì tỷ lệ ủng hộ bà Takaichi có thể giúp Đảng Dân chủ Tự do giành được đa số tại Hạ viện, thị trường bắt đầu suy đoán rằng các chính sách "Abenomics" có thể được khởi động lại. Nhìn chung, động thái của Thủ tướng đã làm trầm trọng thêm những lo ngại của thị trường về tình hình tài chính của Nhật Bản và đẩy tỷ suất lợi nhuận chính phủ Nhật Bản tăng cao. Việc tăng lãi suất mạnh mẽ không chỉ làm tăng gánh nặng nợ công khổng lồ của Nhật Bản mà còn có thể làm trầm trọng thêm sự biến động trên thị trường trái phiếu chính phủ Nhật Bản. Hiện tại, thị trường nói chung dự đoán đợt tăng lãi suất tiếp theo của Ngân hàng Nhật Bản có khả năng diễn ra vào nửa cuối năm nay.
Thứ ba, chính phủ Nhật Bản khó có khả năng thực hiện hành động can thiệp ngoại hối thực tế trong ngắn hạn. Điều này chủ yếu là do sự tăng giá của đồng đô la so với đồng yên trong tháng qua, cũng như biến động ngụ ý một tháng của cặp tiền tệ này, thấp hơn đáng kể so với mức trước khi can thiệp vào năm 2024. Cụ thể, đồng đô la tăng khoảng 3% so với đồng yên trong tháng qua, trong khi mức tăng giá hàng tháng trước đây thường nằm trong khoảng từ 5% đến 6%; trong khi đó, biến động ngụ ý một tháng của đồng đô la so với đồng yên hiện ở mức khoảng 8,5%, trong khi trước đây đã vượt quá 10%. Nếu việc tăng cường can thiệp bằng lời nói có thể làm giảm hiệu quả áp lực giảm giá đối với đồng yên, thì nhu cầu can thiệp thực tế cũng sẽ giảm.
简而言之,由于此前市场预期的多项日元利多因素并未如期兑现,美元兑日元在短期内仍面临重新测试160至162区间(2024年高点)的rủi ro。





