Các cộng tác viên của Forbes công bố các phân tích và hiểu biết chuyên sâu độc lập. Mức độ và tính chất lan rộng của nợ y tế ở Hoa Kỳ là một hiện tượng đặc thù của Mỹ, chắc chắn là khác biệt so với các quốc gia khác. Nguyên nhân là do sự kết hợp của nhiều yếu tố, chẳng hạn như tỷ lệ người không có bảo hiểm y tế tương đối cao hoặc mức khấu trừ và đồng chi trả cao đối với những người có bảo hiểm y tế. Nợ y tế ảnh hưởng không cân xứng đến các nhóm dân cư thu nhập thấp, miền Nam, người da đen và người gốc Tây Ban Nha. Trong khi 100 triệu người Mỹ có ít nhất một khoản nợ y tế, thì khoảng 7,4% cư dân Hoa Kỳ phải chịu chi phí chăm sóc sức khỏe thảm khốc hàng năm, gấp hơn hai lần tỷ lệ của bất kỳ quốc gia phát triển nào khác. Ở đây, nợ y tế được định nghĩa là gặp khó khăn trong việc thanh toán hoặc không đủ khả năng chi trả bất kỳ hóa đơn y tế nào trong 12 tháng qua, bao gồm cả hóa đơn của bác sĩ, nha sĩ, bệnh viện, chuyên gia trị liệu, thuốc men, thiết bị, viện dưỡng lão hoặc chăm sóc tại nhà. Và thuật ngữ "thảm khốc" được định nghĩa là chi tiêu ngoài túi tiền vượt quá 40% thu nhập của hộ gia đình sau khi đã đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cơ bản. Hơn nữa, các ước tính cho thấy việc không đủ khả năng chi trả chi phí chăm sóc y tế góp phần dẫn đến ít nhất 530.000 vụ phá sản cá nhân mỗi năm. Khoảng hai phần ba số vụ phá sản cá nhân ở Mỹ có liên quan đến chi phí y tế hoặc mất việc làm do bệnh tật. Trong số những người cùng trang lứa ở Mỹ, nợ y tế tương đối hiếm. Và ở các nước phát triển, số người phá sản do nợ y tế gần như bằng không. Một loạt dữ liệu thăm dò ý kiến mới được công bố cho thấy cuộc khủng hoảng về khả năng chi trả trong chăm sóc sức khỏe ngày càng gia tăng. Dữ liệu khảo sát được công bố năm ngoái cho thấy tác động của chi phí chăm sóc sức khỏe: 29% người Mỹ trì hoãn kỳ nghỉ, 26% trì hoãn điều trị y tế và 11% bỏ bữa. Nghiên cứu của West Health-Gallup đã xem xét chi phí chăm sóc sức khỏe tự trả ngày càng tăng ảnh hưởng đến người Mỹ như thế nào. Nghiên cứu cho thấy khoảng một phần ba số người được hỏi đã phải đưa ra ít nhất một sự đánh đổi trong năm 2025 để có thể chi trả cho chăm sóc sức khỏe. Một ví dụ đặc biệt rõ nét về điều này được minh họa bởi gần 10% người trưởng thành cho biết họ đã trì hoãn việc nghỉ hưu do chi phí chăm sóc sức khỏe. Nợ y tế gắn liền với việc trì hoãn chăm sóc sức khỏe. Khoảng 43% người Mỹ cho biết họ không dùng thuốc theo toa vì chi phí tự trả quá cao. Một cuộc khảo sát do các nhà nghiên cứu tại Trường Y tế Công cộng Johns Hopkins Bloomberg thực hiện cho thấy 42% người có nợ y tế trì hoãn chăm sóc răng miệng so với 18% người không có nợ, 23% trì hoãn chăm sóc y tế so với chỉ 5% người không có nợ và 14% người có nợ y tế trì hoãn chăm sóc sức khỏe tâm thần so với 5% người không có nợ. Đối với những người mắc các bệnh có chi phí điều trị cao, vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng hơn. Một cuộc khảo sát của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ được công bố năm ngoái với hơn 1.200 bệnh nhân và người sống sót sau ung thư cho thấy 51% báo cáo có nợ y tế phát sinh từ điều trị ung thư mặc dù gần như tất cả những người được hỏi đều có bảo hiểm. Gánh nặng tài chính xảy ra ở mọi mức thu nhập và phổ biến nhất ở những người không có bảo hiểm y tế. Hơn 19% người lớn không có bảo hiểm, 13% người lớn tham gia chương trình Medicaid, 9% người lớn có bảo hiểm thương mại và 8% người lớn hưởng lợi từ chương trình Medicare cho biết họ đang gánh nợ y tế. Con số tương đối cao đối với người tham gia Medicaid là đáng chú ý, vì những người này đã quen với mức đồng chi trả tối thiểu trong nhiều thập kỷ. Giờ đây, họ đang phải đối mặt với sự gia tăng chi phí đồng chi trả. Hơn nữa, các vấn đề về nợ y tế gia tăng và phá sản có thể trở nên tồi tệ hơn, khi hàng triệu người dự kiến sẽ mất bảo hiểm y tế trong những năm tới do luật cắt giảm thuế mà Tổng thống Trump đã ký năm 2025. Đồng thời, người Mỹ đang phải chịu sự gia tăng đáng kể phí bảo hiểm y tế trên cả thị trường bảo hiểm y tế theo Đạo luật Chăm sóc Y tế Giá cả phải chăng (Affordable Care Act) và thị trường bảo hiểm do người sử dụng lao động tài trợ. Để giữ mức phí bảo hiểm ở mức hợp lý, nhiều người phải chuyển sang các gói bảo hiểm có mức khấu trừ cao hơn, điều này sẽ buộc họ phải trả nhiều tiền hơn từ túi riêng trước khi bảo hiểm có hiệu lực. Điều có thể củng cố xu hướng này là động thái của Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Medicare và Medicaid, Mehmet Oz, trong việc thúc đẩy sử dụng các gói bảo hiểm y tế có mức khấu trừ cao và các gói bảo hiểm kém toàn diện hơn. Mặc dù điều này có thể giảm bớt vấn đề phí bảo hiểm liên tục tăng đối với một số người, nhưng nó cũng có thể khiến những người bị bệnh phải chịu gánh nặng tài chính lớn hơn. Đối với những bệnh nhân cuối cùng rơi vào nợ nần, họ có thể gặp khó khăn về tín dụng. Tháng trước, chính quyền Trump đã được tòa án liên bang cho phép đảo ngược các quy định lẽ ra sẽ xóa bỏ nợ y tế khỏi báo cáo tín dụng của người tiêu dùng. Điều này có thể làm tổn hại đến uy tín tín dụng của nhiều người. Ngoài những gánh nặng tài chính hiện tại đối với những người đang cố gắng thanh toán các hóa đơn chăm sóc sức khỏe, nợ y tế có thể dẫn đến việc điều trị không đầy đủ trong tương lai trên nhiều nhu cầu sức khỏe khác nhau của người lớn ở Mỹ, bất kể tình trạng bảo hiểm của họ như thế nào. Hậu quả đối với kết quả sức khỏe có thể rất rõ rệt, vì những người phải đối mặt với rào cản tài chính lớn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường có sức khỏe thể chất và tinh thần kém hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn.
Gánh nặng nợ y tế và phá sản ngày càng gia tăng là vấn đề đặc thù của nước Mỹ.
Bài viết này được dịch máy
Xem bản gốc
Nguồn
Tuyên bố từ chối trách nhiệm: Nội dung trên chỉ là ý kiến của tác giả, không đại diện cho bất kỳ lập trường nào của Followin, không nhằm mục đích và sẽ không được hiểu hay hiểu là lời khuyên đầu tư từ Followin.
Thích
Thêm vào Yêu thích
Bình luận
Chia sẻ




