Tài sản số của người dân được bảo vệ như thế nào?

Việt Nam nằm trong top 3 quốc gia có tỷ lệ người sở hữu tài sản mã hóa trên thế giới, với khoảng trên 17 triệu tài khoản tham gia thị trường, thậm chí có thời điểm lên tới trên 20 triệu người sử dụng. Bởi vậy, khi hành lang pháp lý – Luật Công nghiệp công nghệ số chính thức có hiệu lực – các vấn đề về cơ chế thực thi để bảo vệ tài sản số của người dân cũng được quan tâm…

Ảnh minh họa.

Luật Công nghiệp công nghệ số (có hiệu lực từ ngày 1/1/2026), quy định: Tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử (Điều 46).

Tài sản số bao gồm (Điều 47):

(1), Tài sản ảo trên môi trường điện tử là một loại tài sản số có thể được dùng cho mục đích trao đổi hoặc đầu tư. Tài sản ảo không bao gồm chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật về dân sự; tài chính;

(2) Tài sản mã hóa là một loại tài sản số sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số có chức năng tương tự để xác thực đối với tài sản trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao. Tài sản mã hóa không bao gồm chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật về dân sự; tài chính;

(3), Tài sản số khác.

Hành lang pháp lý trên, cùng với Nghị quyết 05 việc triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam, sẽ từng bước thay đổi cách thức vận hành của thị trường tài sản số, tài sản mã hóa, vốn chịu ảnh hưởng bởi các đơn vị cung cấp dịch vụ nước ngoài. Bởi thực tế, trước khi có luật, hoạt động gọi vốn trên thị trường tài sản số thường diễn ra trong hội nhóm kín, nhiều giao dịch trên nền tảng chưa được cấp phép.

Khi Luật Công nghiệp công nghệ số có hiệu lực, các hoạt động này sẽ chuyển sang hình thức công khai và được bảo vệ theo pháp luật. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro và hệ lụy cho nhà đầu tư, đồng thời tạo ra cơ hội mới cho các startup, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo chân chính.

Trước bối cảnh như vậy, cơ quan xây dựng chính sách, pháp luật đã nhìn nhận, ứng xử và có giải pháp điều chỉnh bằng pháp luật đối với nguồn tài sản mới này như thế nào?

Và về bản chất, tài sản mã hóa phản ánh một giá trị, có đầy đủ đặc điểm, tính chất của tài sản, do đó tài sản mã hóa đã chính thức được công nhận là tài sản. Vậy trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu, xây dựng pháp luật để bảo vệ tài sản số của người dân ra sao?

Tuyên bố từ chối trách nhiệm: Nội dung trên chỉ là ý kiến của tác giả, không đại diện cho bất kỳ lập trường nào của Followin, không nhằm mục đích và sẽ không được hiểu hay hiểu là lời khuyên đầu tư từ Followin.
Thích
57
Thêm vào Yêu thích
17
Bình luận